Isaac Newton và Robert Hooke thù nhau vì hai chuyện: bản chất của ánh sáng và quyền ưu tiên với định luật nghịch đảo bình phương của lực hấp dẫn. Hooke chê lý thuyết màu sắc của Newton năm 1672, rồi năm 1686 đòi được ghi công vì đã gợi ý luật hấp dẫn trong thư từ. Newton đáp trả bằng cách xoá tên Hooke khỏi Principia và đợi Hooke mất mới in cuốn Opticks. Mối thù này làm Hooke bị lãng quên suốt gần ba thế kỷ.
Robert Hooke là ai
Hooke (1635–1703) hơn Newton bảy tuổi và là một trong những bộ óc đa tài nhất nước Anh thế kỷ 17. Từ năm 1662 ông giữ chức Quản lý thí nghiệm của Hội Hoàng gia, tức người phải nghĩ ra và trình diễn thí nghiệm cho các buổi họp hằng tuần. Năm 1665 ông xuất bản Micrographia, cuốn sách tranh khắc những gì nhìn thấy qua kính hiển vi, trong đó có chữ "cell" (tế bào) để chỉ các ô nhỏ trong miếng bần. Ông phát biểu định luật về độ đàn hồi của lò xo mang tên ông, làm kiến trúc sư cùng Christopher Wren trong việc xây lại London sau trận đại hoả hoạn 1666.
Điểm yếu của Hooke là làm quá nhiều việc cùng lúc. Ông có rất nhiều ý tưởng đúng nhưng hiếm khi theo một ý đến tận cùng bằng toán học. Đó lại đúng là thế mạnh của Newton.
Hiệp một: ánh sáng và màu sắc, năm 1672
Đầu năm 1672, Newton gửi Hội Hoàng gia bài "Lý thuyết mới về ánh sáng và màu sắc", trình bày thí nghiệm lăng kính: ánh sáng trắng là hỗn hợp của các màu, mỗi màu bị khúc xạ một mức khác nhau. Đây là bài báo đầu tiên của ông, và Hội giao cho Hooke nhận xét.
Hooke viết lại một bản phê bình khá kẻ cả. Ông công nhận thí nghiệm nhưng cho rằng cách giải thích của Newton chỉ là một giả thuyết trong nhiều giả thuyết, và lý thuyết sóng của chính ông trong Micrographia cũng giải thích được. Với một người 29 tuổi rất nhạy cảm như Newton, đây là sự xúc phạm. Ông trả lời dài, gay gắt, và năm sau từng ngỏ ý rút khỏi Hội Hoàng gia.
Năm 1675, khi Newton gửi tiếp một bài về ánh sáng, Hooke nói nhiều phần trong đó đã có sẵn trong Micrographia. Đến lúc này hai người đã coi nhau là đối thủ.
Lá thư "vai người khổng lồ"
Đầu năm 1676 Hooke viết thư cho Newton, giọng hoà giải, đề nghị hai bên trao đổi riêng thay vì cãi nhau trước Hội. Newton trả lời ngày 5 tháng 2 cũng bằng giọng nhã nhặn, và trong thư có câu nổi tiếng nhất của ông: nếu ông nhìn được xa hơn, đó là nhờ đứng trên vai những người khổng lồ.
Câu này thường được trích như lời khiêm tốn của thiên tài. Một số nhà nghiên cứu đọc nó như một nhát đâm kín, vì Hooke dáng thấp và lưng gù. Cách đọc ấy hấp dẫn nhưng chỉ là suy diễn, không có bằng chứng Newton cố ý; hình ảnh "người lùn đứng trên vai người khổng lồ" vốn là một câu quen thuộc từ thời Trung Cổ. Điều chắc chắn là sau lá thư đó, hai người cũng không làm lành thật sự.
Hiệp hai: lực hấp dẫn và định luật nghịch đảo bình phương
Cuối năm 1679, Hooke, lúc này là thư ký Hội Hoàng gia, viết thư cho Newton với ý định khơi lại trao đổi khoa học. Ông nêu một ý tưởng then chốt: chuyển động của hành tinh có thể tách thành hai phần, một chuyển động thẳng theo phương tiếp tuyến và một lực hút về phía Mặt Trời. Trong một lá thư đầu năm 1680, Hooke còn viết rằng lực hút ấy, theo ông đoán, giảm theo bình phương khoảng cách.
Newton trả lời một lá, trong đó ông vẽ sai quỹ đạo của một vật rơi tự do nếu Trái Đất quay. Hooke chỉ ra lỗi, và lại đọc lá thư sửa lỗi ấy trước Hội. Newton bị bẽ mặt và ngừng thư từ.
Năm 1684, Edmond Halley đến Cambridge hỏi Newton: nếu lực hút giảm theo bình phương khoảng cách thì hành tinh đi theo đường gì. Newton đáp ngay là hình elip, ông đã tính rồi. Hooke, Halley và Wren cũng đã bàn chuyện này ở London nhưng không ai chứng minh được; Hooke nói ông có lời giải nhưng không đưa ra. Từ câu hỏi của Halley, Newton viết bản thảo ngắn De motu, rồi mở rộng thành Principia (1687).
Cuộc chiến ghi công
Khi tập hai của Principia được trình Hội năm 1686, Hooke yêu cầu được ghi nhận vì đã gợi ý luật nghịch đảo bình phương. Newton nổi giận. Trong thư gửi Halley, ông lập luận rằng đoán ra một quy luật và chứng minh nó bằng toán học là hai chuyện khác xa nhau, rồi lục lại các tài liệu để chứng minh nhiều người khác cũng đã nghĩ tới tỷ lệ bình phương. Ông xoá bớt các chỗ nhắc tên Hooke trong bản thảo, và có lúc dọa không in tập ba.
| Vấn đề | Hooke góp gì | Newton góp gì |
|---|---|---|
| Màu sắc | Lý thuyết sóng sơ khai, quan sát màu trong màng mỏng | Thí nghiệm lăng kính chứng minh ánh sáng trắng là hỗn hợp màu |
| Chuyển động hành tinh | Ý tưởng tách chuyển động thành tiếp tuyến + lực hút về tâm | Phương pháp toán học chứng minh quỹ đạo elip |
| Luật nghịch đảo bình phương | Đoán đúng trong thư 1680, không chứng minh | Chứng minh và tổng quát hoá thành vạn vật hấp dẫn |
Hooke mất, Newton viết lại lịch sử
Hooke mất tháng 3 năm 1703. Chỉ vài tháng sau Newton được bầu làm Chủ tịch Hội Hoàng gia, và năm 1704 ông xuất bản Opticks, cuốn sách về ánh sáng mà ông đã giữ lại nhiều năm. Nhiều nhà sử học cho rằng ông cố ý đợi người phản biện gay gắt nhất qua đời.
Có một câu hỏi đến nay chưa có lời đáp: không còn bức chân dung nào được xác thực của Hooke. Có người nghi Newton cho huỷ trong lúc Hội dời trụ sở năm 1710, nhưng đó là giả thuyết không có bằng chứng. Điều chắc chắn hơn là dưới thời Newton, tên tuổi Hooke mờ dần trong Hội mà ông từng gánh vác.
Phải đến cuối thế kỷ 20, Hooke mới được nhìn nhận lại. Năm 2003, kỷ niệm 300 năm ngày mất, nhiều triển lãm và sách ra đời. Hai cuốn đáng đọc là The Curious Life of Robert Hooke của Lisa Jardine (2003) và England's Leonardo của Allan Chapman (2005).
Họ có đẩy nhau lên không
Khác với chuyện Newton – Leibniz, ở đây kình địch có tạo ra kết quả. Lá thư năm 1679 của Hooke đã buộc Newton suy nghĩ lại về chuyển động hành tinh theo cách mới, và chính Newton về sau thừa nhận những lá thư ấy khiến ông quay lại bài toán. Lời chê năm 1672 cũng làm Newton gọt giũa lập luận về ánh sáng kỹ hơn trước khi in Opticks.
Nhưng cái giá cũng lớn. Newton trở nên ngại công bố, giữ bản thảo lâu, một phần vì sợ lại bị Hooke soi. Còn Hooke, người có những ý tưởng thật sự đi trước, lại bị đẩy khỏi lịch sử vì đối thủ sống lâu hơn và nắm quyền.
Góc nhìn hôm nay
- Ý tưởng và chứng minh là hai bậc khác nhau. Hooke có trực giác đúng nhưng không đi hết đường. Nếu bạn có một ý hay, hãy làm cho nó thành thứ kiểm chứng được, đừng chỉ nói "tôi đã nghĩ tới từ lâu".
- Cách chê quyết định phản ứng. Lời phê bình của Hooke có điểm đúng nhưng giọng kẻ cả làm Newton chỉ thấy bị xúc phạm. Góp ý cho đối thủ mà muốn được nghe thì nói vào vấn đề, đừng hạ người.
- Ghi công rộng rãi không làm mình nhỏ đi. Một dòng cảm ơn Hooke trong Principia chẳng làm Newton kém vĩ đại; xoá nó đi lại thành vết nhơ trong tiểu sử ông.
- Người còn lại kể lịch sử. Lưu giữ công việc của mình một cách có hệ thống, đừng trông vào người khác nhớ hộ.
Ở London, Đài tưởng niệm Đại hoả hoạn (The Monument) do Wren và Hooke thiết kế vẫn đứng gần cầu London; Hooke từng dùng trục rỗng của nó cho thí nghiệm. Hội Hoàng gia lưu giữ nhiều bản thư từ gốc giữa hai người.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao Newton và Hooke ghét nhau?
Mâu thuẫn bắt đầu năm 1672 khi Hooke phê bình lý thuyết màu sắc của Newton bằng giọng kẻ cả. Đến năm 1686, Hooke đòi được ghi công vì đã gợi ý luật nghịch đảo bình phương của lực hấp dẫn, khiến Newton nổi giận và xoá tên ông khỏi nhiều chỗ trong Principia.
Hooke có tìm ra định luật vạn vật hấp dẫn trước Newton không?
Hooke đoán đúng rằng lực hút giảm theo bình phương khoảng cách và nêu ý đó trong thư gửi Newton năm 1680, nhưng ông không chứng minh được bằng toán học. Newton là người chứng minh rằng luật đó cho ra quỹ đạo elip và tổng quát hoá thành định luật vạn vật hấp dẫn.
Câu "đứng trên vai người khổng lồ" có phải Newton châm chọc Hooke?
Câu này nằm trong thư Newton gửi Hooke ngày 5 tháng 2 năm 1676. Có người cho rằng đó là lời mỉa dáng người thấp của Hooke, nhưng đây chỉ là suy diễn. Hình ảnh ấy vốn đã quen thuộc từ thời Trung Cổ.
Vì sao không có chân dung Robert Hooke?
Không còn bức chân dung nào được xác thực của Hooke. Giả thuyết Newton cho huỷ tranh khi Hội Hoàng gia dời trụ sở năm 1710 được nhắc nhiều nhưng không có bằng chứng.
Robert Hooke nổi tiếng vì công trình gì?
Ông được biết đến với định luật đàn hồi của lò xo, cuốn Micrographia (1665) đặt ra chữ "cell" cho tế bào, và vai trò kiến trúc sư trong việc xây lại London sau đại hoả hoạn 1666 cùng Christopher Wren.